Devil’s Cup (3)

Devil’s Cup (3)

Trong một thời gian dài, hạt cafe đã là biểu tượng của quyền lực ở Harrar. Tầng lớp những người trồng cafe, được gọi là Harash, không chỉ khắc sâu vào tên thành phố mà còn bị cấm rời khỏi thành phố vì người ta sợ nghệ thuật canh tác loại cây này sẽ bị mất vĩnh viễn. Người đứng đầu đội quân cận vệ hoàng gia được cấp một mảnh đất trồng cafe nhỏ dựa vào cấp bậc quyền lực của anh ta.

Và tất nhiên, cư dân bản địa rất thờ kính bình cafe, như trong lời kinh cầu ghi ở trên, tạm dịch ra là:

“Bình cafe ban tặng hòa bình, bình cafe khiến lũ trẻ lớn lên làm sự thịnh vượng của chúng con nảy nở xin hãy che chở chúng con khỏi quỷ dữ xin hãy ban cho chúng con mưa và cỏ xanh.”

Tôi nghĩ tất cả chúng ta đều cầu nguyện khi uống tách cafe đầu tiên mỗi sáng sớm. Đó là lời khấn nguyện lặng lẽ, vang lên trong tâm trí ta khi còn đôi chút ủ rũ và mịt mù sau giấc ngủ. Lời cầu nguyện có thể thế này: “Ồ, cốc cafe huyền nhiệm, Hãy đưa tôi đi qua những nơi kẹt xe. Hãy giúp tôi có chỗ đứng trong tàu điện ngầm. Hãy tha thứ cho sếp của con, như người tha thứ cho con, Amen.”

621

Nhưng lời cầu nguyện từ những người dân bộ tộc Garri/Oromo còn nghiêm trang hơn thế, một phần của nghi lễ đó là bun-qalle có ý nghĩa ca ngợi sự phồn thực và cái chết, trong đó, những hạt cafe thế chỗ cho những con bò mập được hiến tế cho Thượng đế. Trong cộng đồng người Garri, hành động xay quả cafe tượng trưng cho sự sát sinh, khi thầy tu cắn đứt quả được ví như cắn đứt đầu của con vật đem hiến tế. Sau nghi thức này, hạt cafe được nấu với bơ và những người già nhai cafe. Nhờ đó sức mạnh tinh thần của họ như dâng cao, họ đọc một lời nguyện ban phước cho buổi lễ và bôi chút bơ có nhuốm hương cafe thiêng liêng lên trán của những tín đồ tham dự. Sau đó hạt cafe được trộn với sữa ngọt, và mọi người cùng uống sữa khi đang đọc những lời kinh cầu.

Có thể toàn bộ mấy thứ tôi đang tò mò này cũng giống với những nghi thức trên. Nhưng ai mà lại đến một cuộc gặp làm ăn mà không có cafe chứ? Cafe như một thứ dầu nhớt cho tri thức, với khả năng “khuếch tán sự giàu có của chúng ta” như lời kinh của người Garri, đã làm ra một bình cafe sẵn sàng cho nhu cầu tiêu thụ của cả ngành kinh doanh quốc tế này. Nếu nhìn theo cách này, một văn phòng công ty thời hiện đại chẳng khác gì một “bộ tộc” cắm lều quanh chiếc bình cafe linh thiêng, và nghi thức bun-qalle chính là một trong những cuộc trò chuyện có cafe đầu tiên của loài người, làm mẫu cho hoạt động xã hội phổ biến nhất này.

Hai dấu ấn quan trọng của nghi thức bun-qalle đã đánh dấu phương thức sử dụng cafe để kích thích tâm trí như một loại ma túy huyền diệu. Đầu tiên, hạt cafe được chiên và sau đó ăn, cách thức này rõ ràng bắt nguồn từ những người lính Oromo nhai viên cafe sống gần Kefa. Người Garri, sống cách đó vài trăm dặm ở miền nam Harrar, cũng có liên hệ với người Oromo và nói cùng một ngôn ngữ. Phần thứ hai của nghi thức, lúc hạt cafe đã ra được thêm vào các bình sữa và được uống, gợi đến thời kỳ tiền Hồi Giáo Islam (năm 600 sau công nguyên) bởi những nhà giả kim thuật người Islam tin rằng uống cafe pha với sữa sẽ bị bệnh phong (một niềm tin bắt nguồn từ khinh bỉ dành cho những người châu Âu uống cafe pha với sữa).

etihiopian-coffee-beans

Một dấu hiệu của lễ hội cực kỳ cổ xưa này là người Garri đã tạo gắn kết nghi thức bun-qalle với vị thần Waaq của bầu trời. Tên của thần nghe có vẻ thô kệch khi ta phát âm, nhưng sự thờ phượng vị thần của bầu trời này được cho là một trong những nghi thức tôn giáo đầu tiên của loài người. Chi tiết liệu người ta có ăn hạt cafe trong nghi thức Waaq cổ xưa hay không vẫn còn là nghi vấn. Chỉ duy nhất một điều rõ ràng mà tôi có thể nói, không còn nghi ngờ gì nữa, người Garri đã tiên phong trong việc nếm hạt cafe yêu thích của cả loài người. Những người cổ xưa đã phát hiện ra đặc tính thần diệu của loại chất kích thích này và thờ kính nó (người bây giờ hay gọi một cách dè bỉu là lạm dụng chất kích thích), có lẽ việc thêm nghi thức nhai hạt cafe vào lễ Waaq cũng đã xuất hiện từ khá sớm.

Trong văn hóa của người Oromo ở miền tây Ethiopia,  ý nghĩ ví hạt cafe như cơ quan sinh dục của người nữ đã dẫn đến việc ra đời một lễ bun-qalle kiểu khác với những nghi thức thể hiện thiên về tình dục và giới tính, bắt đầu bằng một đêm kiêng khem, theo nghiên cứu của nhà nhân chủng học Lambert Bartel cho biết. Người Oromo già Gam –machu Magarsa kể cho Bartel rằng: “Chúng tôi ví việc cắn quả cafe với lần giao hợp đầu tiên trong lễ cưới, khi người đàn ông buộc cô gái mở đùi mình ra và đi sâu vào âm đạo của cô.

2

Sau khi hạt cafe được tách vỏ, nó được đảo với bơ bằng một cái cây gọi là dannaba, một từ dùng để chỉ dương vật.  Một vài người thay cái cây đó bằng một bó cỏ tươi vì cho rằng một cành cây không không thể “truyền lại sự sống” hoặc làm cho hạt sinh sôi. Khi hạt cafe được đảo xong, người ta đọc một lời cầu nguyện cho đến khi hạt cafe tách ra vì sức nóng, tạo ra một tiếng Tass! Sự bung hạt này cũng giống với tiếng khóc chào đời của một đứa trẻ và tiếng nấc cuối cùng của một người hấp hối. Người ngồi đảo hạt cafe sẽ đọc:

“Ashama, cafe của tôi, bung mở để mang hòa bình tới hãy mở bung miệng hãy ban cho tôi hòa bình hãy giúp tôi tránh xa miệng lưỡi ma quỷ.”

Khi người ta ăn, hạt cafe được gọi là “chết”, ban lời chúc lành cho sự sống và những ý nghĩ mới, đây là một truyền thống rất xa xưa của người Oromo mà ít ai còn nhớ được. Khi lời về hạt cafe đã được đọc, nghi lễ tiếp tục đến những phần đã rõ, như lễ cắt bao quy đầu, cưới xin, kiện đất đai, hoặc để bắt đầu một hành trình nguy hiểm.

Một điểm quan trọng về nghi thức bun-qalle. Người ta đơn giản là đổ cả hạt cafe vào bình sữa, chứ không nghiền hạt ra. Cách pha cafe thực sự, nơi hạt cafe được nghiền nát được thêm vào một chất lỏng trung tính như nước, sẽ phóng thích hoàn toàn tinh chất của hạt cafe, chỉ để dành cho những nghi thức đen tối như ám một lời nguyền hoặc, cũng như nghi lễ sẽ được tổ chức đêm nay,  trừ tà hoặc gọi một linh hồn ma quỷ lên.

Stewart Lee Allen

Khải Đơn dịch

Mùi của biển nhốt trọn trong chai

Mùi của biển nhốt trọn trong chai

Tôi đến thị trấn Lăng Cô sau chuyến tàu dài chạy suốt đêm.

Chiều, tôi rời khu mình ở, mượn xe máy chạy men theo những con đường nhỏ. Tôi đến được một làng chài.

Làng biển Lăng Cô chỉ có một nhúm những ngôi nhà bé bé thấp thấp. Bà già ngồi ngoài sân chải tóc. Mấy đứa nhỏ đang chơi banh đũa nói cười rộn rã.

Bỗng dưng cơn mưa đến. Tôi chỉ kịp chạy vội vào sân nhỏ, xin bà già cho trú, chờ cơn mưa bóng mây ngang qua. Bà già dọn cơm mời tôi mấy món dân dã. Cơm nghi ngút khói, rau xanh mởn, dĩa thịt luộc trắng trong xếp gọn gàng từng thớ mỏng, chén mắm đỏ quạch lạ hoắc huơ. 

Bữa cơm nóng giữa ngày mưa lạnh

Xứ miền Trung thật lạ. Bất kể tiết trời có đang nóng hanh hao đến chừng nào chăng nữa, chỉ cần cơn mưa xuống, không khí lại giãn ra, gió mang theo hơi lạnh và nhiệt độ bỗng dưng xuống thấp. Những chiều mưa như vầy thì không gì ngon bằng một bữa cơm nóng với tiếng nói cười rộn rã.

Tôi được bà già khoe cái chén mắm đỏ quạch trên mâm là mắm sò, tự tay bà ướp.

Mắm sò được ướp trong chai. Xác những con sò sẽ nổi ở thân trên, bên dưới đáy chai sẽ là một lớp nước hơi trong. Bà già bảo ướp mắm phải “có tay”, nếu không sẽ không thể nào ngon được.

Muốn ăn mắm sò ngon phải biết ăn đúng điệu. Lấy đũa gắp mắm vào chén, giã vào một chút tỏi, trái ớt đỏ, vắt thêm vào một chút nước trái thơm. Khi trộn tất cả lại sẽ nghe mùi thơm dậy lên, thơm nức, và tôi biết chắc sẽ tốn cơm vô cùng vào một ngày mùa mưa. Dùng chung với mắm sò sẽ là thịt heo luộc. Phải là loại thịt ba chỉ với lớp mỡ mỏng dính chạy thành một đường dài dưới da. Thịt luộc vừa tới, khi cắt lát miếng thịt sẽ hơi ươn ướt. Rau sống ăn kèm có xà lách, rau thơm, thi thoảng sẽ có thêm ít khế chua hay xoài cắt mỏng.

Tôi đã không ngại ngùng ăn hết hai chén cơm đầy cùng mấy món rau mắm đơn giản trong một chiều mưa giữa làng chài.

Dù rất cố gắng ngồi yên nghe bà già hướng dẫn cách làm, tôi vẫn không tài nào nhớ được hết từng bước. Mà tôi nghĩ, dù cho có nhớ được hết chăng nữa tôi vẫn sẽ không thể nào làm ra được chén mắm ngon lành như khi được ăn ké ở nhà bà già hôm đó.

Nhốt trọn mùi của biển vào chai

Tôi đã ngạc nhiên vô cùng khi biết rằng sò cũng có thể làm mắm. Cứ tưởng đâu, những chú sò lông, sò huyết chỉ thực sự ngon lành khi được nướng cùng với mỡ hành ở những bữa tiệc trên biển.

Rời nhà bà già khi cơn mưa bóng mây tạnh hẳn. Tôi dạo quanh Lăng Cô và phát hiện ra nơi đây có bán rất nhiều những chai mắm sò đỏ quạch như vậy. Những chiếc chai cao cổ nhỏ, chứa đầy thứ mắm sò đầy hấp dẫn mà chỉ cần nhìn chúng thôi, tôi sẽ có thể nhớ lại trọn vẹn hương vị của bữa cơm ấm cúng chiều mưa hôm đó.

Có lúc, tôi đã nghĩ những chiếc chai cao cổ nhỏ đó y hệt những chai thủy tinh chứa những lá thư tình vẫn lênh đênh trên biển chờ một ai đó nhặt được. Những chai thủy tinh kỳ lạ, giữ trọn hương vị của biển bằng món ăn độc đáo và thơm ngon đến vậy. Chẳng trách, nhắc đến ẩm thực ở Lăng Cô, người ta không thể nào bỏ qua chén mắm đặc biệt này.

Đôi chút về mắm sò Lăng Cô

Cách làm mắm sò có thể gọi là đơn giản, cũng có thể bảo rằng khá công phu.

Sò tươi vừa cào được từ biển sẽ được dùng dao nhọn tách vỏ. Phần thịt sò phải rửa qua nhiều lần cho sạch cát và tạp chất.

Sò rửa sạch, để thật ráo nước. Trộn đều với muối hạt giã nhuyễn. Cái khéo lúc này là đong đếm lượng muối sao cho vửa miệng mà không quá nhạt hay quá mặn. Chính là cái gọi là “có tay” như lời bà già đã nói.

Người ta sẽ cho thêm ớt bột, củ giềng xắt nhỏ vào trộn chung với sò và muối. Sau đó sẽ cho tất cả vào chai đậy kín. Thông thường, sau khoảng 8-10 ngày là có thể ăn được. Khi đó, phần thịt sò sẽ nổi lên phía trên, bên dưới gần đáy chai sẽ là một ít nước hơi trong.

Mắm sò chắc cũng chỉ có vùng Lăng Cô mới có. Con sò ở biển có quanh năm, nhưng chỉ riêng từ tháng Hai đến tháng Bảy, thịt sò mới đặc biệt ngon và được người dân nơi đây đi cào để làm mắm.

Và những người khách đã đến đây, đều muốn mang về thành phố nơi mình sống một chai mắm sò, phải chăng là để giữ lấy chút mùi của biển qua đường vị giác?

 

 

 

Đến Hội An ăn cao lầu mì

Đến Hội An ăn cao lầu mì

Lần thứ n tôi đến với những con phố nhỏ của Hội An.

Vẫn y như lần đầu tiên tôi đặt chân đến đây từ 10 năm trước, khi những bức tường vẫn vàng sẫm một màu, Cầu Chùa vẫn cũ, những giàn hoa giấy vẫn rực rỡ nở rộ khắp những con đường.

Khác chăng, Hôi An giờ đông hơn, hàng quán cũng du nhập nhiều sản phẩm từ bên ngoài hơn chứ không chỉ thuần bán những món đặc trưng riêng của nơi này như túi giày da, như veston, như đầm dạ hội, phụ kiện bạc, và cả những cửa hàng đèn lồng đủ màu đủ sắc.

Đầu tiên là chuyến đi bất chợt khi một người chị họ ghé thăm nhà tôi ở Huế. Lúc đó, tôi đang còn là cô sinh viên năm nhất, ngoại trừ thành phố nơi mình sinh ra, tôi chưa từng đặt chân đến bất kỳ một vùng đất nào khác. Vậy là tôi đã đến Hội An cùng chị, lần đầu tiên trong đời tự mình quyết định sẽ tham gia một chuyến đi xa, để rồi từ đó, những chuyến đi nối tiếp, những ngã ba dừng rẽ bất chấp, và tình yêu với những con đường cứ ngày một lớn trong tôi.

Vậy mà đã tròm trèm 10 năm.

Vậy mà, bất kể thời gian đã trôi qua nhiều thiệt nhiều ở đâu đó ngoài kia, thì ở đây, bất chấp thời gian trở mình, những con phố nhỏ cứ nằm im lìm nhẹ nhàng an yên.

Trong khoảng thời gian dài dằng dặc đó, tôi đã quay trở lại nơi này vô số lần, chỉ để được ngủ tới khi mặt trời quá nửa ngọn sào, để được lội bộ dọc dài những con hẻm nhỏ, để ngồi yên nghe nắng rớt trên những mái ngói xám xịt vẫn im lìm tử hàng nhiều nhiều năm trước đó nữa. Và tất nhiên, để được ăn một tô cao lầu mì chẳng thể nào lẫn vị ở bất kỳ đâu khác.

Hội An không chỉ có cao lầu mì

Tôi xin được khẳng định vậy. Vì nói đến ẩm thực, Hội An dù không nức tiếng cả nước nhưng có vô vàn món ăn ở đây mà hẳn ai một lần ghé cũng đều sẽ muốn được thưởng thức thêm lần nữa.

Mì quảng, bánh bao bánh vạc, cơm gà, bánh ướt cuốn thịt nướng, bánh mì, chè mè đen, chè thưng … Còn nhiều lắm, bánh đậu xanh, tương ớt … Kế ra, ẩm thực Hội An cũng thuộc loại đa dạng và phong phú, nên tôi chẳng dám lớn tiếng rằng nếu bạn đến đây, bạn chỉ nên ăn cao lầu, mà ý tôi rằng, đã đến đây, bạn nên thử một lần ăn cao lầu mì.

Cao lầu mì Hội An

Trong kha khá lần đến Hội An trước đó, tôi đã trải dài thời gian để nếm đủ gần như tất cả món ngon ở đây. Và trong chuyến xuyên Việt gần nhất cùng bạn, chúng tôi đã dừng ở quán Thanh để ăn cao lầu mì.

 

 

Lần đó, tôi đã hỏi cô “Tại sao lại gọi là cao lầu mì?”

Cô bảo, vì ngày xưa người ta hay ăn mì ở trên lầu cao nên mới gọi là cao lầu mì đó hỉ. Câu trả lời nửa đùa nửa thật. Và vì quán cô ở dưới mặt đất, nên tôi cũng chỉ nghe rồi để đó, không để tâm cho lắm dù vẫn quay lại quán cô khá nhiều lần.

Cao lầu mì, rõ ràng là một món ăn khá độc đáo của Hội An. Chỉ của riêng Hội An.

Người ta ít biết đến cao lầu. Đừng ngạc nhiên, không phải vì nó không ngon mà vì món ăn này khá khiêm nhường. Thoạt nhìn, cao lầu khá giống mì, nhưng lại không phải mì. Nhiều người cho rằng cao lầu mì là món của người Hoa, nhưng Hoa kiều tại đây không hề công nhận nó. Một số người thấy rằng cao lầu giống với mì Udon của Nhật, nhưng về cơ bản, hương vị và cách chế biến không giống nhau.

Tinh túy của món ăn đặc biệt này hẳn là sợi mì

Sợi mì dùng cho món cao lầu khác hẳn sợi mì vẫn dùng trong mì quảng, hay mì chiêm.

Gạo thơm được ngâm nước tro, mà phải là tro nấu củi lấy ở Cù Lao Chàm, khi đó mới tạo được sợi mì giòn, dẻo, khô. Sau đó lọc kỹ, xay thành bột. Mà người ta nói, nước xay gạo cũng phải là nước lấy ở giếng Bá Lễ do người Chăm làm cách đây cả ngàn năm. Nước giếng đó mới ngọt, không bị phèn, và mát lạnh.

Tiếp tục dùng vải “bòng” nhiều lần cho bột dẻo, khô, cán thành miếng vừa cô thì xắt thành từng sợi, đem hấp nhiều lần rồi mới phơi khô để làm sợi mì. Qua rất nhiều khâu xử lý như vậy, nên dù cao lầu có để qua đêm cũng không sợ thiu.

Để ăn cao lầu mì, cần một ít giá trụng nước sôi, nhưng tuyêt nhiên không trụng chín quá. Giá trụng đổ ra tô, xếp mì lên trên, thêm vài lát thịt xíu rồi đổ tóp mỡ (làm từ da heo) cùng với một muỗng mỡ heo rán. Thêm ít rau sống, được lấy từ làng rau Trà Quế nổi tiếng của Hội An. Và thịt xíu dùng cho cao lầu, phải là thịt heo cỏ, săn chắc, vừa mỏng da, vừa nhiều nạc, thơm và nước dùng mới có vị ngọt.

Khi ăn cao lầu, ta sẽ có cảm giác sựt sựt của sợi mì, giòn của tóp mỡ, đắng và ngọt của rau mùi, cay của tương ớt Hội An.

Hẳn nhiều người cũng có tham vọng làm cao lầu ở nơi khác, nhưng hầu như chẳng ai thành công. Lý do đơn giản nhất, hẳn là vì chính nước giếng Bá Lễ, tro Cù Lao Chàm và rau sống Trà Quễ đã làm nên đặc trưng riêng biệt cho món ẩm thực này.

Đến nỗi như tôi, một năm ghé qua Hội An vài lần, chỉ để thưởng thức một tô cao lầu mì rồi đi.

Cao lầu mì phải ăn trên lầu cao

Quay lại với cây chuyện nửa đùa nửa thật của cô Thanh, tôi vẫn cứ nghĩ cao lầu mì thuần túy chỉ là một món ăn khiêm nhường của xứ Hội. Vậy mà lần này quay lại, quán cô Thanh đóng cửa nên tôi mới thử tìm một căn lầu cao để thử món cao lầu.

Và lạ, cảm giác dường như khác hẳn. Hẳn câu chuyện của cô Thanh là thật, rằng cao lầu mì được định tên cũng bởi ngày xưa muốn ăn món này phải leo lên lầu cao của quán.

 

 

Ai cũng biết Hội An sầm uất nhộn nhịp quán xá từ xưa. Ngày đó, khi các doanh nhân nơi phố cảng vì muốn trông coi hàng hóa nên thường leo lên các lầu cao của quán. Có thể thấy rất rõ, những quán cao lầu ở Hội An đều có bàn đặt cạnh bancon nhìn xuống đường.

Ngồi trên cao ngắm cảnh đẹp và thưởng thức món ngon. Có thể lắm, là xuất phát điểm của tên gọi cao lầu mì

Bây giờ, những quán cao lầy đã mở khắp nơi. Thậm chí, cao lầu còn được làm từ Hội an và gởi đi nơi khác. Nhưng dường như, phải đến Hội An, phải ngồi trên những căn lầu trông xuống phố cổ, thưởng thức tô cao lầu mì nó mới đúng điệu.

Hẳn rồi. Bạn cũng thử ghé qua, xem sao ^_^

 

 

Cafe Vợt hẻm Phan Đình Phùng

Cafe Vợt hẻm Phan Đình Phùng

Hầu như suốt những tháng năm sống giữa Sài Gòn, hiếm có ngày nào tôi không ghé ngang cái quán cafe nhỏ xíu ở con hẻm cũng nhỏ xíu trên con đường to đùng Phan Đình Phùng.

Tôi không là gì cả khi ngồi đây.

Con hẻm nhỏ đường Phan Đình Phùng lúc nào cũng đông đúc người xe nhốn nháo. Bà già vẫn đều đặn với những động tác quen thuộc, dứt khoát, nhanh chóng cho ra liên tục từng ly café một. Bà lúc nào cũng gọi tôi là “cô gái”, luôn ưu tiên cho tôi một “sữa đá đắng”, một trà đá ngay khi vừa thoáng thấy bóng dáng, bất kể lúc nào cũng có cả hàng dài các anh đang đợi tới lượt để uống ly café “vợt” của bà.

Hẻm mỗi lúc một đông khi người ta quẹo vào từ đường lớn để tránh kẹt xe ngoài ngã Tư Phú Nhuận. Bụi. Khói. Thứ nào cũng gây khó chịu, vậy mà cứ đều đặn ngày hai buổi, tôi lại chạy chiếc Cánh Én của mình đến, giành lấy chút vỉa hè, nghe bà già gọi “cô gái”, hút rột rột ly café sữa đá Sài Gòn rồi ngồi yên đó ngắm đường ngắm người.


Thiệt lạ là sau bao nhiêu năm, tôi vẫn chưa hề chán cái góc nhỏ tí hin ồn ào đó. Bà già thì cứ như đã già sẵn từ lúc nào. Cái đồng hồ cũ kỹ. Cái thùng nước sôi lúc nào cũng nghi ngút khói. Mấy cái vợt cũng ố màu café. Cứ như mọi thứ từ lúc sinh ra đã vậy, không lớn lên, chẳng già đi, cũng chưa hề có ngày trẻ ngày mới bao giờ.


Cái góc quán nhỏ xíu, sáng sớm tinh mơ phục vụ lớp khách già, ly café đen, ấm trà nóng, giở cái bánh quẩy trong bọc nilon ra nữa là xong bữa sáng. Trưa hơn xíu thì tới lớp khách trẻ hơn. Như tôi. Thức khuya nên dậy trễ. Đến uống ly café mà mắt nhắm mắt mở miệng ngáp ngắn ngáp dài. Mấy anh công sở thì ghé qua mua mang đi, đến văn phòng bấm vân tay chấm công rồi mới nhâm nhi bữa sáng. Chiều là của mấy thanh niên trẻ, sập tối của mấy bác xe ôm dừng chân tránh kẹt xe. Rồi tới khuya mịt mù lại đông đúc đám trẻ ngồi phì phèo điếu thuốc.


Cái góc quán nhỏ xíu, chứ tồn tại giữa lòng thành phố đến hơn 40 năm có lẻ. Có đứa bạn tôi, còn ghiền café ở đây từ những ngày nhỏ xíu. Nó kể hồi xưa ba nó đâu có cho uống café, nên là ghim, nên là mỗi lần đi mua về cho ba kiểu gì nó cũng uống bớt mấy hớp, rồi về nhà thề thốt tại con đi bị vấp nên đổ. Ba nó biết hết đều chỉ tủm tỉm cười. Có ly café bị đổ nào mà đều rí mười lần như chục xuống cùng một mức, lại còn có dấu môi trẻ con in hằn trên miệng ly.

 


Tôi ngồi đó, ly café đặt trước mặt đã tan hết đá từ lúc nào. Tôi ngước mắt nhìn lên. Bên phải tôi là hai bác lớn tuổi đang hí húi bấm bấm trên chiếc điện thoại mới. “Con gái mới mua cho, mà khó xài quá chừng.” Bên trái tôi, một anh tóc dài đang tỉ mẩn gỡ hết mấy lá hành trong ổ bánh mì cho cô bạn gái. Hẳn cô gái đó hạnh phúc lắm khi có anh bạn trai hiểu mình như vậy. Chéo phía bên kia chỗ tôi ngồi là cô bán ổi, đang dừng nghỉ và uống ly café cho tỉnh táo. Bên kia nữa là tiệm tạp hóa, cái tiệm mà bạn tôi vẫn bảo có cô chủ tốt nhất quả đất, chỉ vì từ hồi nó còn nhỏ xíu vẫn thường xuyên cho nó mở hũ bốc cục xí muội mà không phải trả tiền. Đến tận bây giờ thói quen ăn xí muội miễn phí đó của nó vẫn còn.


Chẳng mấy chốc, cả hẻm nhỏ hợp thành cả thế giới trước mắt tôi. Mà tôi nghĩ, nếu một ngày phải rời xa thành phố, hẳn tôi sẽ tiếc nuối ghê lắm những thứ nhỏ nhặt này.

Devil’s Cup (2.5)

Devil’s Cup (2.5)

“THỦ TƯỚNG ĐỨC SẼ ĐẾN THĂM JIGA-JIGA”- Abera nói khi tôi kể cho cậu nghe chuyện gì đã xảy ra. “Vì thế họ đuổi anh khỏi chỗ ấy!”

Nhưng cậu bé đã có tin vui cho tôi. Cậu kể về hành trình của tôi cho cô bạn gái nghe. Hóa ra là cô bạn cùng nhà của em gái ấy biết cách pha kati, và cô đã mời tôi đến uống một cốc.

Thực ra, có đến hai loại thức uống làm từ lá cafe. Loại thứ nhất, khá phổ biến, là kati hay còn gọi là kotea, một hỗn hợp làm từ những lá cafe đã rang. Loại thứ hai được gọi là amertassa, một kiểu thức uống ra đời sớm hơn loại kia, làm từ những lá cafe được hái khi còn tươi và phơi trong bóng râm trong vài ngày đến khi khô, rồi đem pha nước uống mà không rang qua. Bà tiểu thương bán đồ cho chúng tôi ở chợ vẫn còn nhớ bà nội của bà uống amertassa. Giờ thì thứ thức uống ấy gần như tuyệt chủng rồi. Tuy nhiên, bà vẫn còn một bao tải đầy kati, những chiếc lá rộng với đốm màu cam và xanh lá.

Kati - một sản phẩm của Starbucks với một "dấu ấn" châu Phi với Arabica.

Kati – một sản phẩm của Starbucks với một “dấu ấn” châu Phi với Arabica.

Kati và amertassa là những thức uống có thể được cho là tiền thân đầu tiên của một tách cafe, vì người Ethiopia đã ăn những hạt cafe từ thời xưa lắm rồi. Tách cafe đầu tiên được nhắc đến chính là thứ thức uống được pha từ lá cây. Kafta là tên Ả Rập của món uống này. Một vài học giả cho rằng ly cafe đầu tiên được pha bằng lá của cây thuốc phiện qat, nhưng đầu thập niên 1400, người Ả Rập bí ẩn al-Dhabhani[1] đã nhìn thấy những người Ethiopia sử dụng qahwa, một tài liệu rõ ràng cho thấy có sự hiện diện của cafe ở thể lỏng. Vậy người Ethiopia thời đó đã uống gì? Khá giống với thứ nước được pha từ lá cafe: Trà cho người âm phủ uống trong thần thoại. Hạt cafe sống Mocha sau này được thêm vào ở miền nam Yemen bởi giáo chủ Hồi Giáo mật tông huyền bí al-Shadhili hoặc những môn đệ[2] của ông.

Dù chuyện xưa có ra sao thì kati vẫn là món thức uống dễ thương. Cách chuẩn bị khá đơn giản: lá khô được rang trên  một chiếc chảo phẳng cho đến khi chúng sậm màu lại, có vân nâu nổi lên, sau đó được bóp vụn ra và pha trên hơi nóng với nước, đường và một nhúm xíu muối. Hỗn hợp được nấu trong khoảng 10 phút. Chất lỏng được cho ra có màu vàng và vị caramel rất tinh tế; hơi có mùi khói so với món trà đen của Trung Quốc nhưng vị phức tạp hơn, vừa ngọt vừa hơi mặn, với một chút vị dính đầy khoái lạc khi trôi vào miệng người uống.

Nhai lá qat ở Ethiopia

Nhai lá qat ở Ethiopia

Nó chứng minh một mối liên hệ đầy cảm xúc với lá qat mà Abera đã mang theo cho chúng tôi cùng nhai. Qat là loại lá chị em từ địa ngục có liên hệ với cafe và đã gây nghiện cho rất nhiều người ở miền nam Arabia và Đông Phi (món này sau đó cũng lan sang phương Tây). Lịch sử của hai loại chất gây nghiện này đan xen với nhau suốt một hành trình dài dưới cùng một cái tên dành cho vị thánh của dân mê cafe, al-Shadhili of Mocha, là “Cha đẻ của hai loại cây”, qat và cafe. Qat là loại lá được nhai sống và ngậm trong miệng cho đến khi nước từ lá tiết ra. Tôi đã thử loại lá này lần đầu nhiều năm trước ở Kenya và không thấy ấn tượng gì mấy, nhưng loại lá mà Abera mang đến ngày hôm đó gây hưng phấn như điện giật, y hệt như mấy viên Ecstasy loại nhẹ. Tuy nhiên, Ecstasy sinh ra cơn hưng phấn đỉnh cao trong cảm xúc và thân thể, trong khi những lá qat loại tốt nhất được trồng ở Harrar lại đem đến cơn hưng phấn đỉnh điểm trong não, đẩy người nhai lá vào trạng thái mê man đến mức khiến cuộc nói chuyện như rơi vào một cơn mê mẩn không dứt ra được[3].

EthiopiaDispatch6_Erbore-village-beauty-Omo-River-Valley

Chúng tôi uể oải nằm dài trên bậc thềm cao trong ngôi nhà truyền thống kiểu Harrar của cậu bé Abera. Bạn bè tiếp tục đến chơi. Họ nhai nhiều lá qat hơn nữa, pha thêm nước kati, và cả buổi chiều trôi qua trong khói lá qat mịt mù, say đắm, thong thả, như thể không điều gì ở đây có thể diễn tả rõ ràng và mạch lạc được nữa. Ngày quá nóng, nhưng ngôi nhà đất sét của Abera lại mát lịm với những chiếc gối êm mịn. Tụi tôi nói về Rod Steward, anh chàng ca sĩ có kiểu tóc làm Abera mê mẩn. Sau đó, đến lúc ngồi nhai lá qat trong phần tiếp theo được gọi là “Giờ Solomon”, chúng tôi nói chuyện như ở trong một cơn mê muội huyền diệu. Tôi nói về một người trợ giáo Thiên Chúa là người Ethiopia đã kết tội dân Hồi giáo xài cafe để ám lời nguyền lên kẻ khác. Abera chưa bao giờ nghe kể chuyện này. Nhưng cậu bé nói, ở Harrar này, vài người dùng cafe để tạo ra những sự hàn gắn[4] tổn thương màu nhiệm.

“Người ta đi hàng nghìn dặm đến Harrar để được chữa lành.” – Cậu bé kể

“Cậu có bao giờ thấy nghi thức đó chưa?” – Tôi hỏi.

“Một lần.” – Cậu gật đầu. “Tôi không lật tẩy được trò của những người đó.”

“Kể lại xem chuyện gì xảy ra?” – Tôi đề nghị. “Cậu đã thấy Zar[5] chưa?

“Anh biết về Zar à?”

“Cha đạo ở Addis kể tôi nghe. Nó là linh hồn quỷ dữ, đúng không?”

“Không, không hẳn thế. Nó là thứ đi đến với sheykah” Cậu ta đã hỏi một người bạn, đang làm việc cho UN tại đây nhưng không nói tiếng Anh. “Có, bạn tôi nói Zar sẽ đi đến với sheykah. Linh hồn đó biết tất cả mọi người.”

Hóa ra một sheykah(*) đã được chào đón trở lại Harrar sau khi hoàn thành khóa huấn luyện đặc biệt trong bốn năm ở Hồ thiêng Wolla của Ethiopia. Người ấy giờ tổ chức lễ ở Harrar mỗi thứ Ba và Thứ Năm. Hôm nay là Thứ Ba.

“Bạn cậu quen những người hành lễ đó à?” – Tôi hỏi.

“Vâng, có quen vài người.”

Tôi ngần ngừ hỏi: “Thế một người nước ngoài có thể đến dự một buổi chữa trị được không?”

“Anh muốn đi á?” – Abera tỏ ra rất ngạc nhiên. “Tôi không biết nữa…” – Cậu bé hỏi lại người bạn kia. “Bạn ấy nói không biết có được không. Chẳng tay nước ngoài nào đến mấy cái lễ này cả. Nhưng bạn ấy sẽ hỏi cho anh.”

Sau đó chúng tôi mất cả buổi chiều để đi tìm sheykah, cuối cùng thì biết vị sheykah vẫn đang ngủ. Hôm nay là ngày nghỉ, người đồng đạo của anh ta nói; tốt nhất là quay lại sau đi. Nhớ mang theo quà.

“Quà hả?” – Tôi hỏi lại.

“Vâng, bình thường thôi mà. Đó là cách thể hiện sự tôn trọng.”

Chúng tôi đã chia nhau ra, Abera sẽ đi một mình để mua “sự tôn trọng” trong lúc đó tôi quay về khách sạn. Tụi tôi sẽ gặp nhau vào buổi tối. Nhưng trong lúc đó, tôi đã đưa cậu bé một ít tiền để mua quà. Tôi tự hỏi đây không biết có phải là trò lừa đảo dễ ra tiền hay không.

“Cậu định mua quà gì cho bọn họ vậy?” – tôi hỏi khi đưa tiền cho Abera.

“Hạt cafe xanh.” – Cậu đáp – “Đó là món quà anh nên tặng. Hai kg là đủ rồi. Đừng tặng họ gì khác. Anh chỉ đến xem thôi mà, có chữa trị gì đâu.”

Stewart Lee Allen

Khải Đơn dịch

Devil’s Cup (2.4)

Devil’s Cup (2.4)

ĐÓ LÀ HAI GIỜ LÁI XE DỄ CHỊU TỪ HARRAR ĐẾN Jiga-Jiga, xuyên qua Thung Lũng Kỳ Diệu, dù tôi chẳng hiểu thứ gì đã làm cho thung lũng này kì diệu cả. Tôi đã khởi hành lúc năm giờ sáng, Abera đã cảnh báo tôi là tài xế sẽ không chịu lái xe về từ Jiga-Jiga sau hai giờ chiều vì sợ bọn cướp đường. Cậu đã đề nghị tôi đi sớm và trở về Harrar trước buổi trưa nếu tôi không định ở lại qua đêm, trong trường hợp đó chắc chắn là khách sạn chỗ tôi ở cũng sẽ bị tụi cướp có súng xông vào trấn. Cũng chỉ là phỏng đoán thôi, dĩ nhiên rồi, có ai mà ngu ngốc đến nỗi dám cho tôi ở trong lều của họ chứ. Có lẽ chủ nhà phải hoang tưởng một chút?  Chắc vậy. Dù sao đi nữa, đi thế này là một cách khởi đầu ngày mới thật mát lành và trong trẻo. Tuy nhiên, đến lúc chúng tôi tiến gần ranh giới hoang mạc, không khí trở nên quá nóng đến nỗi một vài khách đi chung xe đã tháo khẩu súng lục cài bên dưới áo ra.

Sir Richard Burton

Sir Richard Burton

“Đầu người, một khi đã bị chặt đi, không mọc lại như hoa hồng.” – Câu nói này được một sĩ quan người Anh đưa ra khi Sir. Richard Burton(1) đề xuất chuyến đi đến vùng đất này năm 1854, và câu nói ấy cứ quay mòng mòng trong đầu tôi mãi. Sự tương đồng giữa sứ mệnh của Burton và hành trình của tôi có vẻ ngày càng rõ ràng. Chúng tôi đều đang đi tìm kiếm “thân thể của nước” đầy bí ẩn ở vùng Trung Phi; chất nước bí ẩn của tôi chứa vài hạt cafe, nhưng còn hơn thế nữa, thực ra cả hai chúng tôi đều đi tìm một thứ. Burton muốn hiểu nơi bắt nguồn dòng sông Nile; tôi muốn biết vài đoạn hạ nguồn của nó ở đâu. Burton kết thúc hành trình bằng một mũi giáo Somali đâm xuyên qua hai má ông; tôi hi vọng sự tương đồng này của mình với ông sẽ kết thúc ở chỗ này.

Jiga-Jiga là một nơi bụi mịt mù chuyên xây dựng lên những cái lều làm từ thùng dầu Shell. Tôi thò đầu vào cái cửa nhà đầu tiên có ló ra một khay ly tách sứt mẻ.

“Kati?” – Tôi hỏi thăm bằng tiếng Amharic và tiếng Ả Rập. “Ở đây có kati không?”

Nggười phụ nữ trỏ vào cái mũ phớt bằng rơm đã tả tơi của tôi và bật cười khúc khích. Tôi ghé thử một quán cafe khác. Tay chủ quán xua tôi ra ngoài, quán kế tiếp và quán kế tiếp nữa cũng y vậy. Mỗi lần tôi thò mặt ra đường tôi lại thấy một bộ xương cao 1m8 đang nhìn tôi với vẻ ơ thờ đáng sợ. Đàn ông ở đây mang súng trường. Phụ nữ đeo những chiếc khăn trùm đầu sặc sỡ. Người Ogaden, tôi đoán thầm.

Thình lình, một bà lão với làn da nhăn nheo, xăm quanh cổ một hình cái dây chuyền có Thập Giá, ra dấu cho tôi theo vào lều của bà. Bà thỏ thẻ nói như thể đang rất sợ hãi. Tôi thầm thì ra dấu trong câm lặng và khẽ hỏi về kati.

“Kati?” – Bà hỏi ngược lại tôi là chỉ về phía một bao tải chất đầy đống lá bẩn. Bà lặp lại kiểu ra dấu đang uống nước của tôi và hỏi lại. “Kati?”

“Vâng!” – Tôi rút một chiếc lá từ bao tải ra và hít ngửi- có phải nó không? Kati huyền thoại, qat shia, trà Abyssinia, và phải chăng là thủy tổ của mọi loại cafe trên cõi đời này? Bà lão ra hiệu cho tôi ngồi xuống một góc lều, rồi bà quay đi. Có điều ở góc lều đó chả có cái gì để mà ngồi. Thực ra, là chẳng có gì trong cái lều này ngoài bao tải lá to tướng ấy. Đây là một quán cafe sao? Không ly tách, không ghế ngồi… và bà già ấy đi đâu nấu kati chứ? Thậm chí, làm sao mà tôi biết được đám lá ấy có phải lá cafe không chứ?

Bà lão bỗng nhiên chững lại và quay lại nhìn tôi đầy nghi hoặc.

“Kati?” – Tôi hỏi lại.

“Owwwww.” – Bà thở ra với một giọng thoải mái.

Ồ, được rồi. Trông bà lão có vẻ rất hiền từ. Tôi co chân ngồi xuống nền nhà đầy đất. Nhưng lỡ bà ta đánh thuốc mê tôi thì sao? Có một tiếng gõ cửa nhỏ, và một gã lính mặc quân phục thò đầu vào nhìn tôi. Ông ta đề nghị tôi cho xem hộ chiếu. Ông muốn biết tôi đang làm cái quái gì ở Jiga-Jiga này.

Lính biên giới Ethiopia

Lính biên giới Ethiopia

“Cafe” , tôi giải thích một cách yếu ớt. “Người ta chỉ tôi nên đến đây để uống cafe.”

Người lính hỏi bà lão một câu hỏi. Bà lắc cái bao tải đầy lá trên tay.

“Cậu là một thằng da trắng ngu xuẩn.” – Ông ta đầy vẻ giận dữ. – “Đây là vùng cấm – rất nguy hiểm! Ra đây đi theo tôi!”

“Nhưng… bà ấy đang pha cho tôi..” Lập tức, tôi thấy rõ mấy lời này cũng như đàn gảy tai trâu. “Thôi được, thưa sĩ quan.” – tôi đáp lại đầy rụt rè. “Nhưng trước hết, tôi có thể mời ông một tách trà không?”

“Trà á?” – Ông ta hỏi lại.

“Không, không. Ý tôi là kati.

“Đó là thứ gì?”

Tôi bắt đầu giải thích.

“Không, cậu phải đi ngay. Khu vực này do quân đội quản lí.”

Khi ông lính “dẫn độ” tôi đến chuyến xe tải kế tiếp để đuổi tôi khỏi Harrar, tôi nhớ lại lúc mấy tay bạn người Ai-len bị tống cổ ra khỏi khu Đông Harlem bởi hai gã cảnh sát New York, bất chấp việc họ liên tục phản đối là họ đến đấy để gặp bạn bè.

“Đừng có ngu xuẩn thế!” – Một cảnh sát nói khi lôi cổ đám bạn tôi đến nhà ga tàu điện ngầm gần đấy. “Cậu sẽ chẳng có bạn bè gì ở đấy đâu.”

(Còn tiếp)

Stewart Lee Allen

Khải Đơn dịch